Thứ Năm, 24 tháng 5, 2018

Cần xử lý ngay Lê Anh Hùng - kẻ giương băng rôn xúc phạm lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Loa Phường


Ngày 23/5/2018, Lê Anh Hùng, đối tượng thần kinh chính trị, đã  tự chăng băng rôn tại cầu vượt trước Đại học Thuỷ Lợi, trên phố Tây Sơn, gần ngã tư Tây Sơn - Chùa Bộc, Hà Nội với nội dung “Yêu cầu nhà chức trách khởi tố, bắt giam tên gián điệp Tàu Hoàng Trung Hải cùng tên Việt gian bán nước Nguyễn Phú Trọng, kẻ đã bao che đồng lõa với y mười mấy năm qua”. Hùng đăng nhiều tấm ảnh chụp vụ treo băng rôn này lên facebook và kêu gọi đồng bọn chia sẻ. Hiện nay, hàng ngàn đối tượng chống đối trên mạng đã chia sẻ, phụ họa, tung hứng cho “hành động dũng cảm” này của Lê Anh Hùng.
Qua facebook của Lê Anh Hùng, trước đó, ông này đã cầm tấm băng rôn y hệt đứng giữa đường, sau đó tổ chức tiếp buổi đi “biểu tình” trước trụ sở tòa nhà Quốc hội. Nội dung tấm băng rôn rõ ràng đã xúc phạm, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đã cấu thành hành vi tuyên truyền chống Nhà nước theo Điều 117 Bộ luật hình sự.
Được biết, Lê Anh Hùng có biểu hiện tâm thần trước khi lấy vợ. Chính bà Niệm, mẹ Hùng đã đưa anh này đi chữa trị và tố cáo, kể từ khi lấy vợ, cô Lê Thị Phương Anh, căn bệnh của Hùng ngày càng trầm trọng. Đỉnh điểm là Hùng tung ra cuốn nhật ký tố cáo tội ác của “băng đảng Hoàng Trung Hải”, trong đó nhân vật chính và kể lại cho Hùng viết là Lê Thị Phương Anh, vợ Hùng, đại loại là cô này đi làm cơ sở bán hàng Việt Tiến, rồi rơi vào băng đảng buôn ma túy, rồi bị lôi kéo vào buôn ma túy, bị tay chân ông Hải cưỡng hiếp, khống chế, rồi sau đó là rơi vào vòng xoáy tranh giành quyền lực với toàn tứ trụ triều đình, rồi vợ anh ta được các ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và mấy ông bự khác nhận làm con nuôi, hứa hẹn trăm tỷ, ngàn tỷ, rồi chẳng được xu nào, vợ anh ta suốt ngày phải đi khách sạn gặp hết ông nọ đến ông kia….
Từ cốt chuyện này và nhiều tình tiết thêm thắt như thể Hùng là người chứng kiến, rồi Hùng biên soạn hàng trăm đơn thư tố cáo ông Hoàng Trung Hải, đến khi tham gia vào “phong trào dân chủ”, Lê Anh Hùng được băng nhóm Nguyễn Thanh Giang tiêm thêm thông tin ông Hải là người gốc Hoa, từ đó, ông Hoàng Trung Hải có thêm “tội bán nước cho Tàu”, từ đó các ông lãnh đạo Đảng khác bị Hùng tố cáo thêm tội câu kết, bao che cho ông Hoàng Trung Hải và bán nước cho Tàu cùng ông Hải. Do hiện nay ông Nguyễn Phú Trọng đang là Tổng bí thư, Hùng đã nhiều lần gửi đơn tố cáo đòi xử lý ông Hải nhưng chưa thấy xử lý nên ông Trọng bị kết thành tội bao che và bán nước cho Tàu luôn!
Về vụ việc tố cáo của Hùng hàng chục năm qua, công an tỉnh Quảng Trị từng khởi tố Hùng về tội tuyên truyền chống Nhà nước, nhưng thấy biểu hiện tâm thần đã trưng cầu pháp y, khi biết Hùng bị thần kinh phân liệt đã đưa Hùng đi chữa bênh thay vì đi tù.
Về nội dung tố cáo ông Hoàng Trung Hải buôn ma túy, Bộ công an từng có công văn trả lời ông Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc, cho biết, đã kiểm tra nội dung tố cáo, thấy mọi dữ liệu đều không có thật, đại loại như không có ai tên Lê Thị Phương Anh hay tên những nhân viên trong cửa hàng bán quần áo Việt Tiến, không có những người bị nạn, bị giết, bị bịt miệng tồn tại trên đời như  trong nội dung tố cáo …Nội dung trả lời của Bộ Công an được ông Dương Trung Quốc cắt đầu cắt đuôi chuyển cho Lê Anh Hùng và Hùng đã đăng lên mạng, từ đó ông Quốc lẩn trốn Hùng và bị Hùng “truy tìm” đòi giải quyết vụ tố cáo của mình.
Dù  Lê Anh Hùng có tâm thần thật hay không, thì không thể để y lông bông, tự do đi gây rối An ninh trật tự như vậy, rốt cuộc là đám cờ vàng, chống cộng cả trong và ngoài nước bu lấy anh ta, tâng bốc, cổ súy, cho tiền để đi làm việc này. Thậm chí trước đó VOA Việt ngữ còn thuê Hùng viết bài bôi nhọ Đảng, Nhà nước cho VOA với mức thu nhập hàng ngàn đô la mỗi tháng, nay Hùng mới bị cắt hợp đồng, khả năng đói ăn nên càng lộng hành, làm liều vì được nhiều đám chống cộng cổ vũ, cho tiền. Do vậy, mong mỏi chính quyền Hà Nội và ngành công an cần sớm điều tra, nếu anh ta tâm thần thì cần phải buộc chữa bệnh, còn không, đã hết tâm thần thì cho vào tù, không để anh ta thành mục tiêu lợi dụng để chống phá, làm xấu hình ảnh đất nước và lãnh đạo Đảng, Nhà nước như thế.


Thứ Tư, 23 tháng 5, 2018

"Đòn hiểm" của tình báo Anh, Mỹ và bí mật thương thảo khiến Libya từ bỏ vũ khí hạt nhân

Quyết định của Libya đã khiến ngay cả những chuyên gia kiểm soát vũ khí giàu kinh nghiệm nhất cũng phải ngạc nhiên.
Những thông cáo chuẩn chỉ, đầu tiên là từ Bộ ngoại giao Libya, sau đó là Gaddafi, rồi tới Thủ tướng Anh Tony Blair và cuối cùng là Tổng thống Mỹ George W. Bush, là kết quả của nhiều tháng ngoại giao cẩn trọng, công tác phân tích, thu thập tình báo khéo léo, chiến dịch chống phổ biến vũ khí táo bạo, nhiều thập kỷ cấm vận kinh tế và cuối cùng - như cựu Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách An ninh Quốc tế và Kiểm soát Vũ khí Mỹ Robert G. Joseph nói trong cuốn sách của mình - là quyết tâm mang tính chiến lược của ông Gaddafi: "Ông ta có nhiều thứ để mất hơn là được nếu duy trì chương trình vũ khí". 
"Đòn hiểm" của tình báo Anh, Mỹ và bí mật thương thảo khiến Libya từ bỏ vũ khí hạt nhân
"Rửa sạch thanh danh"
Tính đến mùa xuân năm 2003, Gaddafi rất nghi ngại về chương trình hạt nhân và vũ khí hóa học của mình, có lẽ là vì những lý do liên quan tới sự an toàn của bản thân. Mặc dù Libya đã công khai phủ nhận sở hữu chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD), Gaddafi vẫn tìm kiếm đối thoại với phương Tây.
Chỉ vài ngày sau khi Mỹ tấn công Iraq vào tháng 3/2003, con trai Gaddafi, Saif al-Islam và Musa Kusa, người đứng đầu lực lượng tình báo nước ngoài của Libya lúc bấy giờ, đã tiếp cận các quan chức Anh.
Dù không thừa nhận Libya sở hữu chương trình vũ khí nhưng họ tỏ ra quan tâm tới chuyện "xoa dịu căng thẳng" về Vũ khí Hủy diệt Hàng loạt (WMD). Họ đã đề nghị người Anh chuyển thông điệp của mình tới Washington. 
Thủ tướng Blair đã làm như vậy tại Trại David vào cuối tháng 3/2003.
Mặc dù chương trình nghị sự tràn ngập bởi thông tin về cuộc chiến mới nổ ra và kế hoạch cứu trợ nhân đạo, tái thiết, khôi phục các cơ quan dân sự ở Iraq, nhưng Blair và cố vấn chính sách ngoại giao của ông, David Manning, vẫn kéo Tổng thống Bush và cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Condoleezza Rice ra trao đổi riêng.
Họ nhắc tới đề nghị bất ngờ của Gaddafi. Người Mỹ tỏ ra hoài nghi nhưng trong vài phút, ông Bush và ông Blair đã hội ý về việc liệu đề nghị của Libya có nghiêm túc không và nếu có thì nó ẩn chứa điều gì.
Từ bài học 11/9, các lãnh đạo đều đặc biệt lo ngại về những nước như Libya, nơi mà chủ nghĩa khủng bố và vũ khí hạt nhân có thể tụ hội. Sau khi chật vật với hàng loạt nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về Iraq và sự đáp trả của Saddam Hussein, họ háo hức tìm những phương thức mới để thuyết phục các nước từ bỏ chương trình vũ khí cấm.
Tuy nhiên, do nhiều động thái nguy hiểm và đặc biệt là vụ tấn công chuyến bay 103 của hãng Pan Am trên bầu trời Scotland, Libya trở thành đối tượng bị ghét bỏ.
Để đảm bảo bí mật, ông Bush đã đề nghị George Tenet, giám đốc Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), tiếp tục làm việc với người Anh. Tenet đã giao việc này cho Stephen Kappes, một trong hai quan chức hàng đầu của cơ quan này.
Mặc dù Kappes, một cựu lính thủy đánh bộ rất cẩn trọng, nói tiếng Ba Tư chứ không phải tiếng Ả rập nhưng kinh nghiệm phong phú về Trung Đông, châu Á và châu Âu khiến ông trở thành lựa chọn hoàn hảo cho nhiệm vụ này.
Tháng 4/2003, chưa đầy 1 tháng sau khi Libya đưa ra đề nghị, đại diện của 3 chính phủ đã đồng ý tổ chức cuộc gặp đầu tiên trong bữa sáng tại một khách sạn trang nhã ở Geneva. Trên tầng thượng của tòa nhà, Kappes và người đồng cấp Anh từ MI6 (cơ quan tình báo của Anh) mặt đối mặt với Musa Kusa.
Quyết định gặp gỡ ở Geneva không phải là ngẫu nhiên. Kusa không được chào đón ở Anh.
Năm 1980, là người đứng đầu "Cơ quan Nhân dân" của Libya ở London - cụm từ chỉ đại sứ quán của Tripoli - Kusa đã tuyên bố ủng hộ ám sát các thành phần đối địch với Gaddafi ở Anh. Phát ngôn này khiến Bộ Ngoại giao Anh tuyên bố ông là nhân vật không được hoan nghênh (persona non grata).
Mặc dù Washington và Tripoli không có quan hệ ngoại giao, không khí giữa Anh và Libya thì căng thẳng nhưng các cơ quan tình báo giữa các bên thì vẫn trao đổi với nhau.
Các quan chức Anh thường xuyên gặp người Libya để giải quyết các vấn đề liên quan tới vụ Pan Am 103. Ngoài ra, CIA cũng bí mật gặp các quan chức cấp cao Libya kể từ 1999 để "tìm hiểu về các nhóm khủng bố Hồi giáo".
Những cuộc gặp này đã gia tăng sau vụ 11/9, đặc biệt là khi Gaddafi tin rằng al-Qaeda đe dọa ông ta và chính quyền của ông ta. Không thể nói là các bên tin tưởng lẫn nhau nhưng các quan chức Libya và Mỹ đã tham gia vào những cuộc "đối thoại mang tính xây dựng".
Trong cuộc gặp đầu tiên, Anh và Mỹ đã cố gắng đánh giá động lực và mục đích của Libya. Tinh thần của họ thêm phấn chấn khi Kusa thừa nhận rằng Libya đã vi phạm các nguyên tắc quốc tế, tạo điều kiện cho Kappes thuyết phục Libya chấp nhận cho các chuyên gia kỹ thuật vào nước này. Tuy nhiên, người Libya không cam kết gì.
Tới tháng 5/2003, Kappes và cộng sự người Anh lại ngỏ lời mời người Libya gặp mặt. Lần này, cùng đi với Kusa còn có Saif al-Islam, con trai của Gaddafi.

Là người từng sống ở phương Tây, lại hiểu rõ cái giá mà Libya phải trả nếu bị cô lập, Saif đã mạnh dạn đưa ra yêu cầu dù yếu thế. Tuy nhiên Kappes và người đồng cấp Anh đáp rằng, sẽ không có tiến triển nào cho tới khi Anh và Mỹ xác nhận được Libya đã tiêu hủy hoàn toàn vũ khí hủy diệt hàng loạt, đồng thời đóng cửa các chương trình liên quan. 
Tháng 8/2003, Kappes và người đồng cấp Anh lại gặp Kusa một lần nữa. Lần này ông mời họ tới Libya gặp Gaddafi. Vậy là tháng 9/2003, họ bí mật đáp máy bay tới Tripoli. Cuộc gặp diễn ra vào đêm muộn.
Sau 17 phút chỉ trích Mỹ và phương Tây, Gaddafi trở nên nghiêm túc hơn và nhiều lần nói rằng ông muốn "rửa sạch thanh danh". Tuy nhiên, bất cứ khi nào Kappes nhắc tới chương trình WMD của Libya thì Gaddafi đều giận dữ phủ nhận.
Vậy là Gaddafi muốn được công nhận là đã từ bỏ các chương trình bất hợp pháp mà ông ta không thừa nhận mình vận hành. Tuy nhiên theo Tenet, Gaddafi có vẻ bớt gay gắt trước khái niệm "các chuyến thăm kỹ thuật". Ông đã chỉ đạo cố vấn của mình sắp xếp cho hoạt động này.
Đòn bẩy của Anh - Mỹ
Bế tắc kết thúc vào 3/10/2003, sau nhiều năm phương Tây thu thập tin tình báo liên quan tới mạng lưới A.Q.Khan, một mối đe dọa phổ biến hạt nhân khác, và cũng là khi một bộ khung mới về chống phổ biến vũ khí - Sáng kiến An ninh Hạn chế Vũ khí Hủy diệt Hàng loạt (PSI) ra đời.
Bốn tháng sau khi ban hành PSI, Mỹ và các đồng minh chặn được BBC China, một chiếc tàu thuộc sở hữu của người Đức với điểm đến là Libya. Tàu này đã được điều hướng tới cảng Taranto của Italy để kiểm tra.
Khi tra soát giấy tờ và hàng hóa trên tàu, các quan chức phát hiện ra 5 thùng hàng tiêu chuẩn chứa hàng nghìn thành phần trong chương trình làm giàu uranium bí mật của Libya dù trên bản kê ghi là "phụ tùng máy móc đã qua sử dụng".
Các thiết bị này do các tay buôn lậu hạt nhân của A.Q.Khan sản xuất ở Malaysia. Người Italy thả cho tàu đi sau 5 giờ trì hoãn để tránh đánh động Libya nhưng trước đó họ đã tháo dỡ những thùng hàng bất hợp pháp. Vậy là người Libya bị "bắt quả tang" nhập khẩu thiết bị để làm giàu uranium. 
Diễn biến mới này khiến các nhà hoạch định chính sách Âu - Mỹ đứng trước một lựa chọn khó khăn: Họ nên công bố vụ việc, gia tăng tín nhiệm cho một chính quyền Mỹ vốn đã bị chỉ trích vì thất bại trong việc tìm WMD ở Iraq và đứng trước nguy cơ phá hỏng cuộc đàm phán hay lặng lẽ sử dụng số hàng bí mật để làm đòn bẩy với Tripoli?
Người Mỹ đã chọn phương án thứ hai.
Để tối đa hóa ảnh hưởng của vụ BBC China, người Anh đã cử một quan chức tình báo cấp cao tới Tripoli 4 ngày sau vụ việc để thông báo riêng cho Gaddafi về số hàng hóa được tìm thấy trên tàu.
Các quan chức Libya đáp lại rằng, số thiết bị này đã được đặt hàng từ rất lâu trước khi bắt đầu đàm phán và dẫu gì, việc vận chuyển các phụ tùng máy ly tâm cũng không gây hậu quả lớn nào.
Quyết định tránh đối đầu trực diện và công khai với Gaddafi về lô hàng hóa ra lại sáng suốt. Sau này Saif Gaddafi đã nói với Tạp chí Time rằng, chính cách xử lý lặng lẽ và cứng rắn của Anh - Mỹ đã khiến Gaddafi tin rằng London, cũng như Washington hành động dựa trên thiện chí chứ không phải dàn dựng bối cảnh để can thiệp quân sự.
Các chuyến thăm "kỹ thuật" được lên kế hoạch. Trong vòng 10 ngày từ 19/10/2003, một nhóm chuyên gia 15 người đã lưu lại ở Libya. 
Dù người Libya cung cấp thông tin thêm về chương trình vũ khí hóa học và tên lửa của mình nhưng họ vẫn kiên quyết phủ nhận mình có một chương trình vũ khí hạt nhân. Thậm chí một số người còn nói họ không hay biết gì về các phụ tùng máy ly tâm trên BBC China.
Quá trình thanh sát vũ khí rất chi tiết và khó khăn. Các thanh sát viên hiếm khi phát hiện ra dối trá nhưng họ lại thấy sự không đồng nhất trong báo cáo hoặc chứng cứ. Nhóm chuyên gia đã hỏi nhiều câu hỏi mà các cộng sự Libya không thể hoặc không sẵn lòng trả lời. Nhóm này sau đó đã rời Libya, bất mãn vì sự không hợp tác của Tripoli.
Libya thừa nhận
Tháng 11/2003, các đại diện Mỹ, Anh và Libya lại gặp nhau, lần này là ở nước Anh. Cuộc gặp rất căng thẳng.
Rõ ràng Gaddafi vẫn giấu giếm về chương trình hạt nhân của mình. Người Anh và người Mỹ cho rằng mình phải gây áp lực nhiều hơn nữa. Vậy là họ đối chất với người Libya về các bằng chứng mà họ có. Họ nói thẳng rằng họ đã nắm trong tay thông tin về việc Libya mua bán cơ sở máy ly tâm.
Giờ thì Libya không còn có thể phủ nhận được nữa.
Tripoli cho phép nhóm kỹ thuật Âu - Mỹ thực hiện một chuyến thăm khác vào 1-12/12/2003 và tới giữa tháng 12, mọi sự đã rõ. Những bí mật về chuyện Libya đã làm như thế nào, nhập thiết bị hạt nhân cấm và tài liệu từ đâu tuôn ra, khiến các quan chức và tình báo Anh, Mỹ ngạc nhiên.
Trong chuyến thăm lần này, Tripoli đã cho các chuyên gia thấy thiết bị xử lý uranium để sử dụng trong các máy ly tâm, nguyên liệu Urani hexafluorua và các máy ly tâm có khả năng làm giàu các nguyên liệu này thành vật liệu ở mức vũ khí. Tất cả đều vi phạm Thỏa thuận Đảm bảo An toàn mà Libya cam kết với Cơ quan Nguyên tử Quốc tế (IAEA).
Libya cũng thừa nhận đã sản xuất khoảng 25 tấn khí mù tạt và một lượng nhỏ chất độc thần kinh cho vũ khí hóa học.
Kết thúc chuyến thăm này, Libya đã tiết lộ quá đủ về chương trình WMD của mình, cho phép công tác kiểm chứng và tiêu hủy bắt đầu. Thực ra họ còn tiết lộ cả những cơ sở mà nhóm thanh sát không hề hay biết. 

Soha
 Quá trình giải trừ vũ khí hạt nhân và các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác của Libya Kỳ 1


Cố lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi. Ảnh: AP.
Ngày 19/12/2003, lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi đã khiến thế giới sửng sốt khi tuyên bố từ bỏ chương trình phát triển các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD).
Tuyên bố này đã gây nhiều tranh cãi trong dư luận trong những ngày vừa qua. Tuy Mỹ gọi đây là mô hình "kiểu mẫu", nhưng các quốc gia khác như Triều Tiên hay Iran luôn cho rằng chính quyết định từ bỏ hạt nhân đã gián tiếp gây ra sự sụp đổ của chính quyền ông Gaddafi và Libya.
Tòa soạn xin trân trọng gửi tới quý độc giả loạt bài tư liệu về Quá trình giải trừ vũ khí hạt nhân và các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác của Libya để giúp quý độc giả có cái nhìn tổng quan hơn về sự kiện lịch sử này.
***
Ngày 19/12/2003, lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi đã khiến thế giới sửng sốt khi tuyên bố từ bỏ chương trình phát triển các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) và cho phép các thanh sát viên quốc tế đến Tripoli để chứng kiến nước này thực hiện cam kết.
Sau tuyên bố của ông Gaddafi, các thanh sát viên từ Mỹ, Anh và các tổ chức quốc tế khác đã được phái đến Libya để đảm bảo quá trình tháo dỡ và phá hủy các cơ sở vũ khí hóa học và vũ khí hạt nhân, cùng với các loại tên lửa đạn đạo tầm xa. Washington cũng đã bình thường hóa quan hệ song phương với Tripoli sau hơn 20 năm lạnh nhạt.
Kể từ đó, quyết định từ bỏ hạt nhân của Libya đã trở thành "tấm gương" cho những quốc gia được cho là đang phát triển WMD. Cựu Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Stephen Rademaker từng nói về quyết định của Libya hồi tháng 5/2005: "Trong một thế giới phản đối phổ biến vũ khí hạt nhân, quyết định quay đầu (như Libya) không bao giờ là quá muộn".
Việc Tripoli giải trừ WMD cũng được coi là thành công đối với ngành tình báo Mỹ, bởi họ được cho là đã phát hiện và ngăn chặn một số hành động hỗ trợ cho Libya của cha đẻ chương trình hạt nhân Pakistan, ông Abdul Qadeer Khan. Vào thời điểm đó, ngành tình báo Mỹ cũng đang phải đối mặt nhiều lời chỉ trích gay gắt vì đã không ngăn chặn được Iraq phát triển WMD.
Những tưởng mọi sự đã ổn thỏa sau khi Tripoli quyết giải trừ WMD, thì tháng 2/2011, một cuộc nội chiến khốc liệt đã nổ ra tại Libya, mở màn là cuộc đụng độ giữa những người biểu tình chính trị hòa bình và chính phủ nước này.
Những cuộc đụng độ nhỏ đã mở đường cho những cuộc xung đột vũ trang lớn hơn và đẫm máu hơn giữa lực lượng trung thành với ông Gaddafi là các nhóm phiến quân nổi loạn chống đối chính phủ. Căng thẳng đã lên tới đỉnh điểm khi lực lượng phiến quân lật đổ chính quyền và giết chết ông Gaddafi ngày 20/10/2011.


Những diễn biến chính dẫn đến quyết định giải trừ vũ khí hủy diệt hàng loạt của Libya
- 29/12/1979: Chính phủ Mỹ liệt Libya vào danh sách những nước tài trợ cho khủng bố, và áp lệnh trừng phạt đối với các quốc gia trong danh sách này.
- 6/5/1981: Mỹ đóng cửa đại sứ quán Libya tại Washington và lệnh trục xuất các nhà ngoại giao Libya.
- 7/1/1986: Tổng thống Mỹ Reagan gia tăng lệnh trừng phạt kinh tế và đóng băng tài sản của Libya tại Mỹ, vì tin rằng Tripoli vẫn tiếp tục tiếp tay cho mạng lưới khủng bố quốc tế, và liên quan đến hai cuộc tấn công nhằm vào các sân bay tại Rome và Vienna.
- 15/4/1986: Tổng thống Reagan ra lệnh không kích một số mục tiêu tại Libya để trả đũa cho vụ tấn công hộp đêm tại Berlin, Đức được cho là có sự tham gia của Libya.
- 21/12/1988: Máy bay Pan Am 103 khởi hành từ London tới New York phát nổ trên bầu trời Lockerbie, Scotland khiến 259 hành khách và 11 người có mặt tại hiện trường thiệt mạng. Hai quan chức Libya trở thành đối tượng tình nghi chính trong vụ tai nạn thảm khốc này.
- 19/9/1989: Máy bay UTA 772 phát nổ trên đường đến Paris, Pháp, khiến 171 hành khách thiệt mạng, và các điều tra viên cho biết họ tìm thấy chứng cứ cho thấy đây là hành động khủng bố, và có sự tham gia của Libya.
- 31/3/1992: Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc áp các lệnh trừng phạt đối với Libya, bao gồm các lệnh cấm buôn bán vũ khí và cấm hàng không.
- 7/1995: Libya quyết định tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân.
- 5/4/1999: Libya giao nộp 2 kẻ tình nghi trong vụ tấn công máy bay tại Lockerbie ra xét xử, và Liên Hợp Quốc quyết định tạm hoãn lệnh trừng phạt.
- 5/1999: Các quan chức Libya thỏa thuận từ bỏ chương trình phát triển vũ khí hóa học trong cuộc họp kín với Mỹ, đồng thời thừa nhận trách nhiệm vụ nổ máy bay ở Lockerbie.
- 1999-2000: Các cơ quan tình báo Mỹ bắt đầu thu thập được tin tức rằng Libya đang "tái phát triển chương trình hạt nhân, tên lửa và vũ khí sinh học", đồng thời phát hiện chuyến tàu chở các bộ phận chế tạo vũ khí hạt nhân trên đường đến Libya.
Sau khi LHQ hoãn lệnh trừng phạt, Libya lại tiếp tục tìm cách sở hữu và phát triển các loại vũ khí hóa học.
- 8/2002: Mỹ tiếp tục gây sức ép khi gia tăng trừng phạt và giảm mức đầu tư vào Libya.
- Đầu tháng 3/2003: Các quan chức cấp cao Libya thỏa thuận với Anh và Mỹ về việc từ bỏ WMD.
- 12/9/2003: HĐBA LHQ đồng thuận dỡ bỏ các lệnh trừng phạt Libya.
- 19/12/2003: Libya chính thức tuyên bố giải trừ các loại WMD (vũ khí hạt nhân và vũ khí hóa học) sau 9 tháng thỏa thuận với Anh, Mỹ.

Những nguyên nhân dẫn đến quyết định giải trừ WMD của Libya cũng là vấn đề gây tranh cãi. Rất nhiều cựu quan chức thời chính quyền Tổng thống Bush khẳng định Tripoli vì sợ kịch bản Mỹ tấn công Iraq năm 2003 sẽ lặp lại tại Libya, hơn nữa, hồi tháng 10/2003, một con tàu chở các thành phần chế tạo vũ khí hạt nhân được cho là đang hướng đến Libya đã bị Mỹ chặn lại.
Chính lãnh đạo Libya Gaddafi, trong một cuộc phỏng vấn với CNN hồi năm 2003 đã thừa nhận rằng việc Mỹ tấn công Iraq là một trong những yếu tố dẫn đến quyết định giải trừ các loại WMD của ông này.
Tuy nhiên, các chuyên gia nước ngoài lại cho rằng chính các lệnh trừng phạt nặng nề và nỗ lực ngoại giao của các nước phương Tây mới là nguyên nhân chủ yếu khiến chính quyền ông Gaddafi quyết định từ bỏ WMD.

Soha
Kỳ vọng nào cho tương lai Bán đảo Triều Tiên?

Loa Phường

Hội nghị Thượng đỉnh liên Triều lần thứ ba diễn ra thành công ngày 27/4/2018 với Tuyên bố Bàn Môn Điếm khiến cả thế giới thở phào và dạt dào hy vọng về tương lai hòa bình trên bán đảo Triều Tiên. Hàng loạt tin bài hàng ngày về những vụ thử vũ khí hạt nhân, những cuộc khẩu chiến, lệnh trừng phạt, cấm vận,… liên quan đến Triều Tiên bấy lâu nay thay thế bằng loạt hình ảnh hữu nghị với thông điệp hòa bình của lãnh đạo hai nước Hàn-Triều, hy vọng tương lai tốt đẹp, góp phần mang lại sự ổn định, hòa bình cho khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, các diễn biến gần đây và nhìn về lịch sử, thì xem ra tín hiệu lạc quan kia là hơi sớm:

Thứ nhất, đây không phải là cuộc gặp cấp cao lần đầu. Trong bảy thập kỷ qua, hai miền Nam-Bắc đã tiến hành nhiều cuộc đối thoại, gặp gỡ thượng đỉnh và ký kết văn bản nhưng không giải quyết được triệt để vấn đề, thậm chí, bán đảo này còn trở thành “điểm nóng” với những lúc cận kề nguy cơ bùng nổ chiến tranh.
Thứ hai, các nước liên quan đều thực sự mong muốn hòa bình, thống nhất cho Triều Tiên? Có thể nói Nga, Nhật, Trung cũng như Hàn đều mong muốn tiến trình phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên bởi chẳng nước nào trong số trên thực sự muốn một anh kề cận bên miệng hố chiến tranh lại có đồ chơi đe dọa đến sự sinh tồn của mình cả. Còn phía Mỹ, khi hòa bình lập lại trên bán đảo này, liệu có lợi cho Mỹ? Khi đó Mỹ không có lý do gì để tiếp tục dàn quân và đưa hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD nhằm vào Trung Quốc, đồng nghĩa với việc mất đi vai trò đòn bẩy và kiềm chế sức mạnh của TQ trong khu vực. Khôi hài khi dư luận bình phẩm chi tiết Tổng thống Hàn Quốc đề nghị trao giải Nobel Hòa Bình cho Tổng thống Trump về tương lai cuộc gặp cấp cao Triều – Mỹ tới đây!?!
Thứ ba, trước thềm cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều, ông Kim Jong-Un đã có chuyến công du nước ngoài đầu tiên đến Trung Quốc, phá băng quan hệ Triều Tiên và Trung Quốc vốn bị rạn nứt do gần 90 vụ thử tên lửa và 4 vụ thử hạt nhân, trong đó có những vụ mang tính khiêu khích Trung Quốc vào thời điểm Trung Quốc đăng cai Hội nghị G20 (tháng 9/2016) và Hội nghị BRICS (tháng 9/2017) khiến Trung Quốc phải ủng hộ lệnh trừng phạt quốc tế đối với Triều Tiên. Chuyến thăm cấp cao của ông Kim tới TQ đảm bảo cho việc duy trì đường lối đối ngoại thân TQ và nâng vị thế của Triều Tiên trên vũ đài ngoại giao lên đáng kể, đồng thời thể hiện rõ vai trò, sức ảnh hưởng của TQ đối với Triều Tiên đối với cuộc gặp Triều-Mỹ sắp tới dù TQ không tham dự. Người ta thấy cuộc đo sức Mỹ-Triều đang dần biến thành cuộc chơi 4 bên, thêm nhiều biến số khó đoán định hơn.
Thứ tư, cuộc tập trận lớn giữa Hàn-Mỹ ngay trước thềm cuộc gặp Triều-Mỹ đã thổi bùng xung đột tiềm ẩn, cho thấy Hàn hoàn toàn không tự quyết định được số phận của mình. Triều Tiên đe dọa hủy cuộc gặp cấp cao và thể hiện mất niềm tin vào liên minh Hàn-Mỹ.
Người ta thấy chương trình hạt nhân sẽ luôn là điểm nóng trong quan hệ giữa Triều Tiên với TQ, Mỹ, Hàn hay Nhật. Mặc dù thế giới đều ủng hộ tiến trình phi hạt nhân hóa, song nhiều nước đều tìm thấy lợi ích lớn cho mình trong việc Triều Tiên duy trì chương trình hạt nhân. Diễn biến này cho thấy, những ai vội mừng, vội tin vào tương lai tươi sáng cho thống nhất liên Triều có vẻ ngây thơ.
Ở Việt Nam, thời điểm diễn ra Hội nghị thượng đỉnh liên Triều lần thứ ba rơi đúng vào dịp 30/4 khi mà cả đất nước nghỉ lễ, ăn mừng ngày Thống nhất đất nước, còn một bộ phận bên kia đại dương tổ chức ngày quốc hận, quốc tang, hay Tháng tư đen và các “đồng minh” của họ trong nước như Dòng Chúa cứu thế Thái Hà và các zân chủ gia, truyền thông “tự do” lấy sự kiện Liên Triều để xét lại lịch sử, lên án cuộc thống nhất đất nước là “cuộc chiến tranh xâm lược miền Bắc vào miền Nam”, gây tổn thất lớn và việc hơn 40 năm thống nhất Việt Nam vẫn thua Hàn, Nhật, Sing là thất bại của Đảng Cộng sản, bla, bla… Đã đến lúc nên đưa các thể loại này đi “đại phẫu” xem tư duy khát khao được làm “nô lệ cho Mỹ” đã khiến họ mù màu nhận thức, bất mãn với nền hòa bình hiếm hoi của dân tộc. Chắc chúng đang mơ giấc mơ “Mùa xuân Arap” đến với Việt Nam để giải thoát chúng khỏi “cộng sản” hay có cơ hội được biến Việt Nam thành bãi thử nghiệm “độ lung linh” của các loại vũ khí tối tân cho các cường quốc chăng!?!


Thứ Ba, 22 tháng 5, 2018

Trung Quốc duyệt binh quy mô lớn nhất trên biển đe dọa ai?
Loa Phường

Ngày 12/4/2018 vừa qua, Trung Quốc (TQ) đã tiến hành cuộc duyệt binh Hải quân Hạm đội Nam Hải tại căn cứ Tam Á. Đây là cuộc duyệt binh hải quân đầu tiên tổ chức ở Hạm đội Nam Hải và là cuộc duyệt binh quy mô lớn nhất so với 4 cuộc duyệt binh hải quân trước đây.
Từ khi lên nắm quyền, ông Tập đã tổ chức 3 cuộc duyệt binh lớn. Cuộc thứ nhất ở Quảng trường Thiên An Môn kỉ niệm 70 năm kết thúc Chiến tranh thế giới 3/9/2015 được đánh giá mang tính khẳng định sức mạnh và vai trò của Đảng, Quân đội TQ. Cuộc thứ hai vào ngày 30/7/2017 tại Khu tự trị Nội Mông mang tính khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng và răn đe Ấn Độ và các nước láng giềng. Cuộc duyệt bình hải quân lần này được xem là “ngoại lệ” của ông Tập với thông điệp công khai là thể hiện sức  mạnh và tham vọng trở thành lực lượng hải quân hàng đầu thế giới!
Tuy nhiên mổ xẻ ý đồ TQ đột ngột tổ chức cuộc duyệt binh lần này, giới phân tích cho rằng, nó nhằm vào các mục đích sau:
Một là, khẳng định vai trò của TQ ở “phía Đông thế giới” và bày tỏ sự ủng hộ, chia lửa đối với Nga khi tình hình Trung Đông đang căng như dây đàn sắp đứt trong bối cảnh quan hệ Trung-Nga đang “nồng ấm” trở lại !?!
Hai là, răn đe Mỹ trong bối cảnh chiến tranh thương mại đang leo thang, phát đi tín hiệu Hải quân Trung Quốc đủ mạnh để đối đầu với bất kỳ cường quốc nào, kể cả Mỹ. Chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ trước đó đã thừa nhận, “TQ đang thách thức Mỹ và đồng minh, đồng thời đang thiết lập lại trật tự thế giới hiện nay. TQ đang thực hiện bá quyền ở khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương, muốn thay thế vị trí bá chủ của Mỹ ở khu vực và toàn cầu”.
Ba là, không chỉ  răn đe Mỹ mà còn nhằm răn đe Đài Loan khi chính quyền Thái Anh Văn đang thực hiện chính sách đối đầu với TQ, chủ trương giữ cự li và độc lập với đại lục đang được Mỹ ủng hộ, còn ông Tập thì đe dọa “có đầy đủ năng lực đánh bại mọi hoạt động chia cắt đất nước”. Bởi vậy, dễ hiểu cuộc tập trận của TQ vừa diễn ra thì Đài Loan tiến hành tập trận ngay tức khắc.
Bốn là, cuộc tập trận đồng thời gửi đi thông điệp răn đe các nước ASEAN trong bối cảnh tranh chấp ở Biển Đông chưa có tiến triển và cuộc thảo luận COC chưa có đột phá gì.
Đối với các nước ASEAN và khu vực, trong đó có VN đang có tranh chấp chủ quyền trên biển với TQ thì rõ ràng, cuộc tập trận này đã phơi bày bộ mặt thật của TQ khi sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực càng khiến các nước cảnh giác và mất niềm tin vào chủ trương “trỗi dậy hòa bình” của chính quyền Tập. Khi mà cả thế giới và các nước trong khu vực đều thấy rõ thì thuyết “mối đe dọa của TQ”  sẽ tăng lên khiến uy tín và hình tượng quốc tế của TQ với khu vực và thế giới lu mờ. Sự ủng hộ của các nước trong khu vực cho các chính sách hướng Đông của Mỹ, EU, Úc, Ấn để kìm tỏa TQ sẽ trỗi dậy. VN cần làm tốt việc truyền tải thông điệp đó và hợp tác tốt với tất cả các nước mạnh trên thế giới, chứ không riêng gì Mỹ.
Tất nhiên, Đảng, Nhà nước VN không ngạc nhiên hay bị động gì với diễn biến này, Thực tế, VN đã âm thầm củng cố chủ quyền và năng lực quân sự trên các đảo kể từ khi thống nhất đất nước, chứ không phải đợi đến hôm nay, bất chấp phản ứng của Mỹ và khu vực, thế giới. VN âm thầm mua sắm, trang bị vũ khí, củng cố sức mạnh quân đội. VN đã thực hiện chính sách ngoại giao trung lập, nhất quán và mời gọi tất cả các nước tìm đến hợp tác với chủ trương nhất quán là hòa bình, ổn định, không ủng hộ bất cứ xung đột nào. Trong nước, Đảng đã ban hành nhiều đề án, chiến lược mang tên “Đề án tăng cường bảo vệ chủ quyền biển đảo” hàng chục năm qua với tổng thể các giải pháp đã và đang triển khai. Bất cứ kẻ nào, thế lực nào tung tin bịa đặt rằng Đảng “bán nước”, “lệ thuộc”, “hèn nhát”, mới chính là thế lực chống lại công cuộc và nỗ lực bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước. Chúng muốn tận dụng bất cứ tình thế khó khăn nào của đất nước để “đục nước béo cò” như khát khao không giấu giếm của Lê Công Định và đám đội lốt đấu tranh dân chủ (phải để kinh tế rơi vào khủng hoảng như 1945 thì dân mới nổi dân cướp kho thóc), nay chúng đã và đang tận dụng tình thế TQ uy hiếp chủ quyền biển đảo nhằm dấy lên cuộc nổi loạn phải “thân Mỹ thoát Trung”, phải “lật đổ Đảng mới giữ được chủ quyền biển đảo”…

Chứng kiến đám No-U và Việt tân sướng rơn lên khi TQ tập trận, đưa vũ khí hàng nặng ra đảo, quan chức ngành du lịch “nói hớ” để kích động biểu tình, bạo loạn cho thấy rõ dã tâm đen tối chưa bao giờ thay đổi của đám zân chủ ngày ngày mơ “phục quốc” cho VNCH hay ảo tưởng Mỹ sẽ giúp chúng nắm quyền và bảo vệ đất nước. Syria hay Iraq chưa đủ sức làm giảm khát vọng này của chúng hay khiến chúng mở mắt ra tí nào cả.


Syria -một đất nước và dân tộc bất hạnh!

Loa Phường

Syria có vị thế đặc biệt quan trọng với địa chính trị thế giới đương đại. Về kinh tế, Syria có nhiều tài nguyên có giá trị đối với nền công nghiệp hiện đại; là trung tâm của toàn bộ tuyến đường ống dẫn dầu mỏ, khí đốt đi qua các nước Arap với chiều dài lên tới hàng nghìn km. Về quân sự, ven bờ biển Syria có thể xây dựng nhiều hải cảng và căn cứ quân sự trọng yếu đối với hải quân các nước Địa Trung Hải. Về lịch sử, Syria có nền văn minh cổ đại hùng vĩ, từ vương quốc Ba Tư cho đến đế chế La Mã, hay dấu tích huy hoàng của Alexander Đại Đế. Tuy nhiên thế giới bây giờ chỉ biết đến Syria là chảo lửa chiến tranh, vùng vẫy trong vòng xoáy cạnh tranh địa chính trị cả ở cấp độ khu vực và thế giới. Ước vọng về nền hoa bình ngày càng xa vời khi cùng một lúc xuất hiện nhiều điểm nóng xung đột mới và nguy cơ đối đầu quân sự mới giữa các cường quốc đứng sau lưng.

Nhìn vào địa chính trị, Mỹ, Anh và Pháp là những nước có lợi ích chiến lược tại Syria nói riêng và toàn Trung Đông nói chung. Từ lâu, Mỹ và các nước Châu Âu cùng Israel đã ấp ủ kế hoạch đầy tham vọng “Đại Trung Đông”  bao gồm cả Bắc Phi dưới sự lãnh đạo của Mỹ. Để thực hiện kế hoạch trên, ngoài việc tiến hành phong trào “Mùa xuân Arap”, loại bỏ những nhà “lãnh đạo độc tài” đi ngược lại lợi ích của Mỹ và loại bỏ ảnh hưởng của Nga khỏi khu vực.
Syria từng là thuộc địa của Pháp. Nhiều tập đoàn, công ty của Pháp đã cắm rễ ở Syria, bởi vậy Mỹ và các nước Châu Âu không thể chấp nhận một Chính quyền Assad thân Nga chống lại họ.
Thất bại trong nỗ lực thay đỏi chính quyền của gia đình Assad thân Nga qua mưu toan đảo chính, Phong trào “Mùa xuân Arap”, sử dụng các tổ chức Hồi giáo cực đoan như “Anh em Hồi giáo”, bí mật tài trợ cho Nhà nước Hồi giáo IS, lực lượng dân quân người Kurd, các phe phái đối lập chống Syria (Lực lượng dân chủ Syria SDF, Quân đội tự do Syria – FSA, Liên minh dân chủ người Kurd – PYD…), Mỹ và Phương Tây đã đứng sau kích động cuộc nội chiến kéo dài 7 năm tại Syria và vận động quốc tế cô lập nhằm lật đổ Chính quyền Assad.  Vụ tấn công pháo kích vừa qua và các ngụy tạo tấn công hóa học chẳng qua nhằm ngăn chặn đà chiến thắng  của liên minh Nga - Assad, trong bối cảnh các lực lượng đối lập thân Mỹ, Phương Tây không còn khả năng chống trả các cuộc tấn công của quân đội Syria với sự yểm trợ của Nga. Đứng trước nguy cơ trắng tay tạy Syria và thất thế tại Trung Đông, nên buộc Mỹ và liên minh phải tạo ra một vụ sử dụng vũ khí hóa học lấy cớ tấn công Syria và xiết chặt vòng vây với Nga. Với cục diện hiện nay, người ta thấy cả Mỹ, Nga và những quốc gia có lợi ích chưa muốn giải quyết sớm vấn đề Syria. Tình trạng “nửa hòa bình, nửa chiến tranh” ở Trung Đông sẽ có lợi cho các nước lớn, Trung Đông trở thành bãi thử nghiệm, nơi trình diễn các loại vũ khí mới của Mỹ, Nga và cũng là “thị trường tiêu thụ vũ khí” lớn nhất.
Từ một khu vực “vàng đen” – nơi người dân sống trên nguồn lợi thiên nhiên trở thành “địa ngục trần gian”, tương lai cả thập kỷ nữa chắc có lẽ chưa thấy nền hòa bình. Góc nhìn địa chính trị đã bỏ rơi 19 triệu người dân Syria vùng vẫy tìm sự sống trong tuyệt vọng. Có thể nói, “hòn ngọc Trung Đông” này đã phải chịu bi kịch từ chính vẻ đẹp rực rỡ của nó. Syria là một xã hội hết sức đa dạng, vói nhiều chủng tộc và tôn giáo khác nhau cùng chung sống (74% người Arap, 10% người Kurd, còn lại là người Thổ, Armenia, Do Thái và các chủng tộc khác, 87% dân theo đạo Hồi, 10 % theo Thiên Chúa giáo…).
Dưới giai đoạn gia đình Al-Assad nắm quyền lực, Syria là một quốc gia thế tục và sức mạnh chuyên quyền của Nhà nước đã khống chế được nhiều mâu thuẫn âm ỉ về tôn giáo và sắc tộc. Giai đoạn hòa bình này đã chấm dứt kể từ “Mùa xuân Arap năm 2011” khi các cuộc biểu tình chống chính phủ ở Syria leo thang, trở thành nội chiến. Các phe phái trong đất nước đã băm nát Syria khi mỗi bên chọn “đồng minh hậu thuẫn” riêng cho mình.
Từ số phận Syria hay Iraq cho thấy thân phận của những nước nhỏ và xinh đẹp, hấp dẫn đều trở thành miếng mồi cho nhiều mãnh thú xâu xé.  Từ bài học lịch sử Việt Nam cho thấy, con đường giành độc lập, thống nhất đất nước là xương máu và kỳ tích của cha ông dành cho thế hệ hiện nay. Nền hòa bình hiếm hoi này cần được bảo vệ bằng mọi giá và thực tiễn chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản và sự đoàn kết của nhân dân quanh Đảng mới bảo vệ vững chắc nền hòa bình mới 43 năm tuổi này.


Thứ Hai, 21 tháng 5, 2018

No-U và Việt Tân âm mưu khơi lại các cuộc biểu tình  mang danh nghĩa chống Trung Quốc?
Loa Phường

Lợi dụng sự kiện Trung Quốc tập trận lớn, đưa vũ khí ra tăng cường cho các đảo lấn chiếm ở Biển Đông cũng như nhóm du khách Trung Quốc mặc áo có đường lưỡi bò vào du lịch Việt Nam, các biểu tình viên No-U và ủng hộ viên Việt Tân đang âm mưu khơi lại các cuộc biểu tình  mang danh nghĩa chống Trung Quốc tại trung tâm Thủ đô.
Ngày Chủ Nhật 20/5/2018, nhóm 7-8 biểu tình viên No-U mặc áo có biểu tượng phản đối đường lưỡi bò “đi dạo” quanh Bờ Hồ, livestream với phát ngôn lên án sự hiếu chiến của Trung Quốc, lên án chính phủ không quyết liệt lên tiếng, lên án Nhà nước tuyên truyền về chủ quyền biển đảo chưa hiệu quả nên khiến dân chúng vẫn thơ ơ với “vận mệnh dân tộc” đang “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhìn vào cách thức tổ chức, cách trình diễn, sự khiêu khích với một vài anh công an giữ trật tự, nhất là tìm cách phỏng vấn, kích động dân chúng Bờ Hồ ủng hộ “phong trào No-U” đã chết chìm mấy năm qua của họ, cùng lời kêu gọi của “thủ lĩnh biểu tình” Lã Việt Dũng, Lê Hoàng…cho thấy rõ: phản đối đường lưỡi bò chỉ là cái cớ để họ tìm kiếm cơ hội phát động lại các cuộc biểu tình, tuần hành quanh Hồ Gươm vào các buổi sáng chủ nhật nhằm “tố cáo Đảng, Nhà nước hèn với giặc, ác với dân” khi không đồng ý cho các cuộc tụ tập trái phép, mang màu sắc chống đối Nhà nước, gây rối an ninh trật tự.







Trước cuộc diễu hành mini này, các thành viên chủ chốt của “phong trào No-U” đã mở chiến dịch tuyên truyền, lên án phát ngôn của quan chức ngành du lịch “Khách Trung Quốc mặc áo “đường lưỡi bò” là “sự cố nhỏ” và không muốn làm nóng vấn đề này sợ “ảnh hưởng đến đại cục” nhằm tấn công chính sách ngoại giao của Đảng, Nhà nước với Trung Quốc hiện nay. Ngày 18/5, Nguyễn Lân Thắng hô hào thay avatar mặc áo No-U trên facebook thì ngay lập tức các thủ lĩnh Việt tân bên kia bờ đại dương hô hào chiến dịch quyên góp tiền tặng áo No-U miễn phí cho người dân trong nước. Ngày 19/5, người ta thấy Nguyễn Lân Thắng đem khoe thùng áo No-U xịn vẫn cất giữ từ năm 2011 (rõ ràng bắn đi tín hiệu hưởng ứng màn cổ vũ mặc áo No-U của Việt Tân. Và rồi sau cuộc diễu hành mini, Lã Việt Dũng tuyên bố “Chương trình tặng áo No-U” từ 14h giờ chiều ngày 20/5, tuyên bố sẽ in tiếp áo nếu được tiếp thêm “tài chính ủng hộ”). Vậy là, cuộc phối hợp trong ngoài nhịp nhàng của No-U và Việt tân đã được khởi phát.
Đối với “phong trào No-U” do ông Nguyễn Quang A sáng lập và tài trợ,  với mục đích chính là tổ chức các cuộc biểu tình ở Bờ Hồ như là hình thức tập dượt cho các cuộc cách mạng đường phố theo mô hình “cách mạng dân chủ” mà ông này đã học được trong các chuyến Tây du và đang nỗ lực quảng bá qua Tủ sách SOS2 của mình. Việc đám biểu tình viên lợi dụng sự kiện ngoài biển và các phát ngôn của quan chức ngành du lịch nhằm kích động khuynh hướng bôi nhọ, xuyên tạc chính sách ngoại giao và cuộc chiến bảo vệ chủ quyền của Đảng, Nhà nước hiện nay, rõ ràng không hoàn toàn “trong sáng” như phát ngôn của các thủ lĩnh No-U là “khai trí” cho người dân Hà Nội và trong nước về đường lưỡi bò. Thực tế 2/3 cuộc phỏng vấn của nhóm No-U này với người dân đang đi dạo trên Bờ Hồ đã cho thấy, nhận thức của họ về đường lưỡi bò không mù màu, lệch lạc như chúng vừa khoác lác trước đó, đã vô tình phơi bày bộ mặt giả dối kích động biểu tình chống chính quyền của chúng.

 
B-52 Mỹ né Hàn Quốc sau khi Triều Tiên dọa hủy hội đàm

Liên minh Mỹ-Hàn Quốc-Nhật Bản đã thay đổi hành trình bay của 2 oanh tạc cơ B-52 để tránh bay qua bán đảo Triều Tiên trong tuần này.
 Oanh tạc cÆ¡ B-52 của Mỹ không tham gia cuá»™c tập trận Max Thunder vá»›i Hàn Quốc /// Không quân Mỹ
Oanh tạc cơ B-52 của Mỹ không tham gia cuộc tập trận Max Thunder với Hàn Quốc
Hai quan chức quốc phòng Mỹ ngày 18.5 tiết lộ ít nhất 2 oanh tạc cơ B-52 đã xuất phát từ căn cứ trên đảo Guam trong 24-48 giờ trước đó, bay qua khu vực phía nam và đông nam bán đảo Triều Tiên nhưng tránh đi vào không phận Hàn Quốc, theo CNN.

Hai máy bay sau đó quay về căn cứ ở Guam. Theo các quan chức trên, chuyến bay được lên lịch trước nhưng bị thay đổi hành trình bay nhằm tránh kích động CHDCND Triều Tiên. Nhiệm vụ bay này được tiến hành trong nhiều năm qua và không được coi là tập trận mà là sự thể hiện cam kết an ninh của Mỹ đối với đồng minh.

Sự thay đổi này diễn ra sau khi Triều Tiên ngày 16.5 bất ngờ phản đối cuộc tập trận không quân Max Thunder của Mỹ và Hàn Quốc, đồng thời để ngỏ khả năng hủy bỏ cuộc hội đàm thượng đỉnh giữa lãnh đạo Kim Jong-un và Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Singapore vào ngày 12.6.

Các quan chức Mỹ nói không rõ quyết định đổi hành trình bay B-52 có liên quan đến phản ứng của Triều Tiên hay không, nhưng nhấn mạnh hành động này có thể nhằm tránh khiến Triều Tiên nghĩ là Mỹ đang gây hấn.

Trong một động thái tương tự, Lầu Năm Góc ngày 17.5 xác nhận các máy bay ném bom B-52 sẽ không tham gia cuộc tập trận Max Thunder. Tuy nhiên, Lầu Năm Góc khẳng định sự vắng mặt của B-52 trong cuộc tập trận trên đã được quyết định “từ rất lâu” và không liên quan đến tuyên bố ngày 16.5 của Triều Tiên.
Thanhnien